Trang Tin hoạt động

Chính sách thuế và vấn đề giải quyết tranh chấp nhà đầu tư – Nhà nước (ISDS) tại Việt Nam

Thứ Tư, Ngày 17/02/2021

Kể từ khi có sự lây lan của Covid-19, các Quốc gia đang phải giải quyết rất nhiều thách thức lớn bao gồm các vấn đề về kinh tế và sức khỏe cộng đồng. Nhiều người mất việc làm; một loạt doanh nghiệp tuyên bố phá sản; nợ công tăng cao. Trong bối cảnh đặc biệt này, các Quốc gia đã thực hiện các chính sách đặc biệt để giải quyết các thách thức phát sinh. Các chính sách này bao gồm các chính sách thuế khẩn cấp tạm thời để tạo ra sự thúc đẩy thị trường hoặc gia tăng thu nhập Quốc gia. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy các chính sách thuế khẩn cấp tạm thời đã gây ra các thiệt hại cho một số nhóm người hoặc doanh nghiệp, và kết quả là phát sinh tranh chấp đầu tư. Trong bài viết này, VCI Legal sẽ phân tích một cách ngắn gọn các chính sách thuế của các Quốc gia đã bị khởi kiện bởi các nhà đầu tư thông qua thủ tục giải quyết tranh chấp nhà đầu tư – Nhà nước (“ISDS”). A. Chính sách thuế không công bằng bị khởi kiện: các vụ kiện thông qua thủ tục ISDS Cairn v. India :Áp dụng hồi tố thuế thu nhập doanh nghiệp và nghĩa vụ đối xử công bằng và thỏa đáng Phần lớn các hiệp định bảo hộ đầu tư (“IPAs”) quy định nghĩa vụ về đối xử công bằng và thỏa đáng (“FET”) đối với các quốc gia ký kết. Tiêu chuẩn FET được áp dụng là khác nhau giữa các IPAs phụ thuộc vào cách hành văn của các hiệp định này. Các IPAs thế hệ mới thường quy định điều kiện FET một cách cụ thể tại các điều khoản FET, ví dụ như nguyên tắc quy trình pháp lý tiêu chuẩn (due process) hoặc lẽ công bằng tự nhiên (natural justice) trong khi các IPAs được hình thành vào thập niên 1990 hoặc đầu thập niên 2000 không có những quy định cụ thể này. Nhà đầu tư khởi kiện theo các IPAs không quy định điều kiện cụ thể này nhận được sự bảo hộ với phạm vi rộng hơn, vì theo các IPAs này, việc nhà đầu tư kỳ vọng rằng quốc gia sở tại sẽ tuân thủ theo hiến pháp, luật, nghị định, hiệp định và tập quán quốc tế là hợp lý và hợp pháp. Thêm vào đó, nếu quốc gia sở tại không hành động đúng theo các tuyên bố và lợi ích đã đưa ra để thu hút đầu tư nước ngoài, và thay đổi một cách không thể tiên lượng trước các quy tắc thiết yếu mà các nhà đầu tư đã dựa vào đó để đầu tư thì có thể được coi là không công bằng và không thỏa đáng. Việc áp dụng hồi tố thuế của Ấn Độ bị khởi kiện tại vụ Cairn v. India là một ví dụ điển hình của đối xử không công bằng và không thỏa đáng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Giao dịch dẫn đến tranh chấp tại vụ Cairn v. India tương đối phức tạp. Cairn Energy PLC, nguyên đơn đầu tiên, là một tập đoàn đa quốc gia có trụ sở chính đặt tại Anh. Giữa năm 1996 và 2006, Cairn Energy PLC thu được khá nhiều lợi nhuận từ nền công nghiệp dầu khí tại Ấn Độ do 27 công ty con của mình nắm giữ. Không công ty nào trong số 27 công ty con này được thành lập tại Ấn Độ. Năm 2006, Cairn Energy PLC quyết định hợp nhất các công ty con này thành một công ty đại chúng mới tại Ấn Độ là Cairn India Ltd. Sau khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, Cairn UK Holdings Ltd, nguyên đơn thứ hai, nắm giữ 69% cổ phần của Cairn India Ltd. Sau đó, một chuỗi các giao dịch được thực hiện giữa các công ty này, và tài sản do 27 công ty con nước ngoài nắm giữ được chuyển nhượng cho Cairn UK Holdings Ltd, và sau đó được chuyển nhượng cho Cairn India Holdings Ltd, một công ty con được sở hữu bởi Cairn UK Holdings Ltd được thành lập tại Jersey, Channel Islands, một thiên đường thuế. Cuối cùng, Cairn India Holdings Ltd được Cairn India Ltd mua lại từ Cairn UK Holdings Ltd. Vào đầu năm 2014, khi Cairn Group đang muốn bán số cổ phần còn lại trong Cairn India Ltd, cơ quan thuế Ấn Độ bắt đầu điều tra các giao dịch tái cấu trúc năm 2006 nêu trên. Thông qua các quá trình rà soát và kháng cáo, Chính phủ Ấn Độ đã áp thuế trên thặng dư vốn khoảng 1,6 tỷ Đô la mỹ đối với Cairn Energy bằng cách áp dụng hồi tố Đạo luật Thuế Thu Nhập 2012 (sửa đổi) mà một trong những mục đích được cáo buộc là nhằm vào giao dịch năm 2006 của Cairn. Tháng 3 năm 2015, Cairn Energy đã tiến hành khởi kiện theo thủ tục trọng tài đối với chính sách thuế được Chính phủ Ấn Độ áp dụng thông qua theo hiệp định đầu tư song phương Ấn Độ - Anh. Vào tháng 12 năm 2020, Hội đồng Trọng tài của vụ Cairn phán quyết rằng việc Chính phủ Ấn Độ áp dụng hồi tố Luật Thuế Thu Nhập là vi phạm nghĩa vụ FET và ra lệnh Ấn Độ trả cho Cairn Energy khoảng 1,2 Đô la mỹ với lãi cho các thiệt hại, 20 triệu Đô la mỹ cho chi phí pháp lý, và 2 triệu Đô la mỹ cho chi phí trọng tài. Mặc dù các lập luận của Hội đồng Trọng tài của vụ Cairn cho các phán quyết được đưa ra không được công bố công khai, nhưng vẫn có thể suy luận được từ các điều khoản cơ bản của Hiệp định đầu tư song phương Ấn Độ - Anh. Tiêu chuẩn FET trong Hiệp định đầu tư song phương Ấn Độ - Anh là một tiêu chuẩn không quy định điều kiện áp dụng cụ thể mà theo đó một nhà đầu tư như Cairn được hưởng sự bảo hộ đầu tư với phạm vi rộng. Có thể Hội đồng Trọng tài của vụ Cairn đã đánh giá xem có bất kỳ chính sách công nào đủ thuyết phục để áp dụng hồi tố luật thuế. Nếu việc áp dụng này chỉ chủ yếu dựa vào việc tăng cơ sở tính thuế hoặc doanh thu thuế của quốc gia thì khó có khả năng được chấp nhận theo luật quốc tế. Nếu Ấn Độ có thể biện luận thành công rằng việc tái cấu trúc doanh nghiệp của Cairn dẫn đến việc lạm dụng trốn thuế, Hội đồng Trọng tài có thể chấp nhận biện luận này như một lời bào chữa hợp pháp cho việc áp dụng hồi tố dẫn đến tranh chấp này. Tuy nhiên, Ấn Độ dường như đã không thành công dựa trên cơ sở này. Nếu Hội đồng Trọng tài không tìm thấy bất kỳ sự bào chữa hợp pháp nào cho việc áp dụng hồi tố, những chính sách này có thể dẫn đến sự không công bằng với Cairn Energy. Yukos v. Russia : Chính sách thuế dẫn đến quốc hữu hóa gián tiếp trong thời gian dài (“creeping” expropriation) Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Yukos được thành lập với tư cách là công ty cổ phần năm 1993 bởi Sắc lệnh Tổng thống. Được tư nhân hóa hoàn toàn vào các năm 1995–1996, Yukos là công ty được sáp nhập theo chiều dọc tham gia vào thăm dò, sản xuất, tinh chế, tiếp thị và phân phối dầu thô, khí tự nhiên và các sản phẩm dầu mỏ. Năm 2002, Yukos trở thành công ty Nga đầu tiên được xếp hạng trong danh sách mười công ty dầu khí lớn nhất theo giá trị vốn hóa toàn cầu. Đạt đỉnh vào năm 2003, Yukos có khoảng 100.000 nhân viên, 6 nhà máy lọc, và giá trị vốn hóa thị trường là 33 tỷ Đô la mỹ. Từ năm 2003, Chính phủ Nga đã bắt đầu một loạt các chính sách chống lại Yukos và lãnh đạo điều hành của Yukos mà chủ yếu là các chính sách điều tra hình sự và chính sách thuế. Sau đây là tóm tắt các chính sách đã được Chính phủ Nga thực hiện đối với Yukos: Bước 1: Chính phủ Nga đã làm tê liệt Yukos thông qua khởi tố hình sự đối với các cổ đông của Yukos về gian lận, trốn thuế và tham ô. Bước 2: Một loạt chính sách đánh giá lại thuế đã được thực hiện bởi cơ quan thuế Nga dẫn đến việc xác định Yukos đã nợ thuế 24 tỷ Đô la mỹ. Bước 3: Chính phủ Nga đã tịch thu cổ phiếu của Yukos và bán các công ty con sản xuất chính của Yukos là YNG tại cuộc đấu giá có một nhà thầu duy nhất, Baikal, một doanh nghiệp giả được mua bởi doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, Rosneft. YNG đã được bán khoảng một nửa theo ước tính của JP Morgan. Năm 2006, Yukos tuyên bố phá sản. Tài sản còn lại của Yukos được mua bởi các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước là Gazprom và Rosneft, với các phiên đấu giá phá sản thu được tổng cộng 31,5 tỷ Đô la mỹ. Tháng 11 năm 2007, Yukos đã được thanh lý và xóa bỏ đăng ký tư cách pháp nhân. Tháng 2 năm 2005, Yukos khởi kiện Nga theo thủ tục trọng tài dựa trên Hiệp ước hiến chương năng lượng (“ECT”). Sau 10 năm tiến hành thủ tục tố tụng, vào tháng 7 năm 2014, Hội đồng Trọng tài vụ Yukos đã tuyên Yukos được hưởng 50 tỷ Đô la mỹ tiền bồi thường, 60 triệu Đô la mỹ phí pháp lý, và 5,6 triệu Đô la mỹ chi phí. Đây được xem là bản án trọng tài có giá trị lớn nhất trong lịch sử theo thủ tục ISDS. Vụ Yukos là một ví dụ điển hình của quốc hữu hóa gián tiếp hoặc tước đoạt trong thời gian dài (“creeping” expropriation). Hội đồng Trọng tài trong vụ này cho rằng một loạt các chính sách của cơ quan Chính phủ Nga đã được sắp đặt ở mức độ cao nhất của Chính phủ Nga. Mặc dù phán quyết của Hội đồng Trọng tài có giá trị rất lớn, song các căn cứ có liên quan dẫn đến các quyết định của Hội đồng Trọng tài về quốc hữu hóa gián tiếp được dựa trên các vụ kiện ISDS khác. Ví dụ, tại vụ Biloune and Marine Drive Complext Ltd v. Ghana, Hội đồng Trọng tài đưa ra phán quyết về tước đoạt gián tiếp trong thời gian dài dựa trên cơ sở “lệnh dừng làm việc, phá hủy, triệu tập, bắt giữ, giam giữ, yêu cầu nộp tờ khai tài sản, và trục xuất của [nhà đầu tư] mà không có khả năng trở lại” của Chính phủ Ghana. Điểm thú vị của vụ Yukos về thuế là đánh giá của Hội đồng Trọng tài về điều khoản “ngoại lệ” (“carve-out”) và điều khoản “thu hồi” (“claw-back”) trong hiệp ước liên quan - ECT. ECT bao gồm các điều khoản sau liên quan đến “cắt bớt” và “thu hồi” chính sách thuế: Điều 21(1): “… không có gì trong Hiệp ước này sẽ tạo ra các quyền hoặc áp đặt các nghĩa vụ về Chính Sách Thuế của Các Quốc Gia Ký Kết”. (điều khoản ngoại lệ) Điều 21(5): “[Cam kết không tước đoạt bất hợp pháp] sẽ áp dụng đối với …” (điều khoản thu hồi) Hội đồng Trọng tài đưa ra hai nhận định có lợi cho nhà đầu tư khởi kiện. Đầu tiên, Hội đồng Trọng tài có thẩm quyền “gián tiếp” đối với yêu cầu khởi kiện về quốc hữu hóa vì bất kỳ chính sách nào được loại trừ bởi điều khoản ngoại lệ sẽ được đưa lại trong thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài bởi điều khoản thu hồi. Thứ hai, trong bất kỳ trường hợp nào, điều khoản ngoại lệ sẽ chỉ áp dụng đối với hành vi thuế thật, tức các hành vi được đưa ra vì mục đích gia tăng doanh thu chung của Quốc gia. Về lý do thứ hai, Hội đồng Trọng tài cho rằng việc Chính phủ Nga đánh giá thuế đối với Yukos chủ yếu nhằm làm tê liệt Yukos hơn là thu thuế và do đó không được loại trừ bởi điều khoản ngoại lệ. B. Áp dụng đối với Việt Nam Tranh chấp khởi kiện Việt Nam theo thủ tục ISDS phát sinh từ chính sách thuế của Việt Nam không phải là tranh chấp mới. Năm 2012, hai công ty Anh là công ty con của công ty năng lượng Mỹ, ConocoPhillips, đã bán hai mỏ dầu ở Việt Nam cho một công ty Anh được sở hữu bởi một công ty dầu khác, Perenco. ConocoPhillips có được lợi nhuận khoảng 896 triệu Đô la mỹ dựa vào giao dịch này. Năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã cố gắng áp thuế thu nhập doanh nghiệp khoảng 179 triệu Đô la mỹ đối với ConocoPhillips cho lợi nhuận có được qua giao dịch này. Năm 2017, cả bên bán (ConocoPhillips) và bên mua (Perenco) khởi kiện Việt Nam theo thủ tục trọng tài ISDS dựa trên Hiệp định đầu tư song phương Anh – Việt Nam trên cơ sở các công ty này không có hiện diện thương mại phải chịu thuế tại Việt Nam. Tháng 1 năm 2020, có thông tin được công bố cho rằng ConocoPhillips đã phải nộp một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp trên thặng dư vốn không được công bố cho Việt Nam và từ bỏ vụ kiện theo thủ tục ISDS. Vụ ConocoPhillips có thể không phải là một ví dụ cho các chính sách không công bằng, phân biệt đối xử hoặc chính sách thuế tùy tiện đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đúng hơn, đây có thể coi là một vụ hình mẫu cho việc các công ty đa quốc gia sử dụng kẽ hở trong hệ thống pháp luật của một quốc gia cụ thể để trốn tránh nghĩa vụ thuế quy định tại hệ thống pháp luật của một quốc gia khác thông qua các hiệp định bảo hộ đầu tư hoặc các hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Tuy nhiên, có các trường hợp khác mà các chính sách thuế của Việt Nam có thể làm gia tăng các rủi ro phát sinh tranh chấp đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài. Nghị định của Chính phủ về giảm lệ phí trước bạ ô tô sản xuất nội địa có thể là một trong số đó. Tháng 6 năm 2020, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước. Theo Nghị định này, lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước được giảm 50% cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2020. Tại Việt Nam, lệ phí trước bạ đối với ô tô khá cao, lên đến 12% giá thành xe. Do đó, việc giảm giá này là một đặc quyền lớn cho các nhà sản xuất xe có cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Mặt khác, đây có thể được coi là hành vi đối xử không công bằng đối với các nhà sản xuất xe nước ngoài không có cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Mặc dù chỉ được áp dụng tạm thời, các công ty này có thể đã xem xét hoặc vẫn đang xem xét việc khởi kiện Chính phủ nếu thiệt hại cho việc kinh doanh của các công ty này gây ra bởi Nghị định này là đáng kể. Vui lòng kiểm tra đường dẫn sau để xem phân tích chi tiết hơn của chúng tôi về vấn đề này: http://www.vci-legal.com/2020/09/investment-dispute-arising-from-tax-cut/ Chính sách thuế là chức năng cốt lõi của Quốc gia để đáp ứng chi tiêu của Chính phủ. Các biện minh và lý giải khác nhau cho việc đánh thuế đã được đưa ra trong suốt quá trình lịch sử. Các yếu tố khác nhau như chủ nghĩa vụ lợi, kinh tế, hoặc thậm chí lý do đạo đức đã được xem xét. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng chính sách thuế của các Quốc gia có thể bị khởi kiện theo pháp luật quốc tế nếu như không công bằng, không thỏa đáng hoặc phân biệt đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài.

Trang chủ | Tin hoạt động | Tư vấn hội viên | Tin tức khác | Liên hệ | Giới thiệu
Cơ quan chủ quản: HIỆP HỘI CÁC NHÀ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử số 84/GP-BC cấp ngày 29/06/2005
Trụ sở:Tầng 6 - Tòa nhà Đa Năng - Số 169, Phố Nguyễn Ngọc Vũ, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Email: office@vafi.org.vn - Tel: 024.3972 8133 - Fax: 024.3972 8133
Copyright © 2005 Vietnam Association of Financial Investors. All Rights Reserved.